bannervanlangedu
Trang chủ   KHÓA HỌC NGHIỆP VỤ  THUYẾT MINH TUYẾN ĐIỂM MIỀN TRUNG

THUYẾT MINH TUYẾN ĐIỂM MIỀN TRUNG

THUYẾT MINH VỀ TUYẾN ĐIỂM MIỀN TRUNG

I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM MIỀN TRUNG

1) ĐỊA LÝ

Diện tích: 62.256,8 km².

Dân số: 11.479.500 người.

Duyên hải miền trung bao gồm các tỉnh từ Đèo Ngang trở vào Bình Thuận, ứng với vương quốc Chămpa cổ, gồm có 11 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.

Phía Bắc giáp Hà Tĩnh (ranh giới là Đèo Ngang).

Phía Nam giáp Đông Nam Bộ.

Phía Tây giáp Lào và Tây Nguyên.

Phía Đông giáp biển Đông (có nhiều vịnh, biển đẹp tầm quốc tế).

Thành phố trực thuộc Trung Ương là Đà Nẵng.

Địa hình có hai dạng chính: miền núi và đồng bằng thung lũng hẹp. Độ cao thấp dần từ Tây sang Đông. Có nhiều nhánh núi nhỏ đâm thẳng ra biển làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh ( cụ thể là: đèo Ngang giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh, đèo Hải Vân giữa Đà Nẵng, đèo Bình Đê giữa Quảng Ngãi và Bình Định, đèo Cù Mông giữa Bình Định và Phú Yên, đèo Cả giữa Phú Yên và Khánh Hòa).

Khí hậu: từ phía Bắc đèo Hải Vân trở ra Quảng Bình (Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình) một năm có 4 mùa giống miền Bắc. Từ nam đèo Hải Vân đến Bình Thuận có mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, kèm mưa bão (trung bình 10 lần/năm), và có lũ quét dữ dội (khác lũ hiền ở miền Tây Nam Bộ).

Sông ngòi bắt nguồn từ dãy Trường Sơn ở phía Tây chảy về phía Đông tạo ra các cửa biển lớn như: sông Nhật Lệ – cửa Đồng Hới, sông Bến Hải – Cửa Tùng – Quảng Trị, sông Cam Lộ – Cửa Việt, sông Hương – Cửa Thuận An, sông Hàn – cửa Đà Nẵng, sông Thu Bồn – Cửa Đại – Hội An, sông Đà Rằng – Tuy Hòa, sông Côn – Thị Nại – Quy Nhơn, sông Cái – Xúp Bóng – Nha Trang, sông Cà Ty – Phú Hài – Bình Thuận. Sông có độ dốc cao, phù hợp phát triển thủy điện: thủy điện sông Hinh (Phú Yên); và nhiều công trình thủy lợi như: hồ sông Quao (Tánh Linh – Bình Thuận), sông Cam Lộ (Quảng Trị), sông Côn (Quy Nhơn). Chính các sông này bồi lắng phù sa cho các cánh đồng duyên hải tạo ra các cảng biển nổi tiếng, cảng Cửa Việt, cảng Chân Mây, cảng Tiên Sa, cảng Hội An, cảng Dung Quất, cảng Thị Nại, cảng Vũng Rô, cảng Cầu Đá (Ninh Thuận). Các con sông ở đây khô hạn triệt để vào mùa khô.

Giao thông vận tải:

Đường bộ có quốc lộ 1A xuyên suốt dọc theo biển từ Bắc xuống Nam. Hiện nay có thêm đường mòn Hồ Chí Minh công nghiệp hóa dọc theo phía Tây. Từ đây, người Pháp đã thiết kế các quốc lộ vuông góc để đến với Tây Nguyên.

Đường biển là lợi thế và đã thông thương với Thế giới từ rất sớm trong lịch sử (cảng Hội An).

Đường hàng không: có sân bay quốc tế Đà Nẵng, sân bay Phú Bài (Huế), sân bay Chu Lai (Quảng Nam), sân bay Phù Cát (Quy Nhơn), sân bay Đông Tác (Tuy Hòa), sân bay Cam Ranh (Khánh Hòa).

Đường sắt nằm trên trục đường Bắc Nam.

Động thực vật: có các vườn quốc gia tiêu biểu như Phong Nha – Kẽ Bàng, Bạch Mã, khu bảo tồn thiên nhiên núi Chúa (Nha Trang),… tiêu biểu cho rừng nhiệt đới khô hạn. Ở rừng Bạch Mã có các loài động vật nhiệt đới như cọp, sao trĩ,…

Tài nguyên du lịch:

Với ưu thế bờ biển dài, vịnh biển đẹp, trong xanh, khí hậu ấm áp quanh năm nên phù hợp với loại hình du lịch nghĩ dưỡng, thể thao.

Với nền văn hóa Chăm pa rực rỡ và lịch sử nhà Nguyễn phong phú để lại nhiều di tích độc đáo, phù hợp du lịch văn hóa, lịch sử.

Nằm ở ngã ba Đông Nam Á (vị trí đắc đạo) phù hợp du lịch hội nghị. Là cửa ngõ của hành lang kinh tế Đông Tây nối liền Lào, Đông Bắc Thái Lan, Miến Điện, Đông Nam Trung Quốc phù hợp du lịch thương mại, du lịch caravan.

Tài nguyên khoáng sản: mỏ vàng Bồng Miêu (Quảng Nam), mỏ cát làm thủy tinh (Quy Nhơn, Cam Ranh, Quảng Nam), mỏ Titan (Mũi Né, Hòn Rơm), mỏ dầu (biển Trường Sa).

2) LỊCH SỬ

Thời cổ đại:

Ở Quảng Trị, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huê người ta phát hiện nhiều trống đồng chứng tỏ vào thời kỳ Hùng Vương ở phía Bắc, vùng này đã có các cộng đồng thiểu số sinh sống. Họ đã giao lưu với người Bắc Việt ở phía Bắc. Họ có thể là các cư dân cổ của Đông Nam Á. Vào khoảng 500 năm trước Công nguyên có một luồng cư dân từ vùng đảo Inđônêsia thuộc chủng Polynesien hay Mã Lai – Đa Đảo đến định cư. Sau đó họ chia làm các nhánh hướng về Tây Nguyên lập nghiệp: người Êđê, GiơRai, Churu, Rănglay. Riêng ở vùng duyên hải miền Trung là cộng đồng người Chăm có điều kiện giao lưu với thế giới bên ngoài tốt nhất. Người Chăm sớm tiếp nhận văn minh Ấn Độ. Cuối thế kỷ thứ II, đầu thế kỷ thứ III đã có chữ Phạn xuất hiện ở vùng Diên Khánh – Nha Trang. Tuy nhiên các cộng đồng người Chăm ở ven sườn núi không bị ảnh hưởng Ấn Độ giáo (người ta gọi là Chăm H’Roi). Người Chăm truyền thống đã tạo nên văn hóa rực rỡ cho riêng mình trước khi bị văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng, đó là văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi).

Thời trung đại:

Từ thế kỷ thứ IV ở miền Trung tồn tại một vương quốc tên là Lâm Ấp (Xứ Rừng). Từ đây đạo Bà La Môn giáo đã được vương triều Lâm Ấp chấp nhận gần như là quốc giáo. Tiến hành xây thánh địa Mỹ Sơn ở thượng nguồn sông Thu Bồn, dưới chân núi Chúa. Ở đoạn giữa sông Thu Bồn là kinh đô Simhapura (Trà Kiệu) và cuối nguồn nơi biển Cửa Đại là cảng Đại Chiêm. Đây là trung tâm quan trọng bậc nhất của lịch sử Chămpa kéo dài đến thế kỷ 11. ở Mỹ Sơn đã xây dựng được gần 70 tháp, nay còn khoảng 20 tháp. Đến thế kỷ VI, vương quốc Lâm Ấp được đổi thành vương quốc Chămpa (tên loài hoa Đại hay hoa Sứ biểu hiện sự tinh khiết mọc nhiều ở miền Trung; là tên của một thành phố cổ – nơi xuất phát của đạo Bà La Môn).

Từ thế kỷ XI, vương quốc lùi về Quy Nhơn với thành Đồ Bàn – Quy Nhơn.

Thế kỷ thứ VIII, IX có tiểu quốc ở xứ Kau–tha–ra (Nha Trang), Pôsanư (Phan Thiết). Thế kỷ XIII, XIV vương triều của họ ở Panduranga (Phan Rang) với tháp Pôklonggiarai và Pôrômê.

Thời nhà Lý, Đại Việt đã mở những trận đánh sang Chămpa, bắt nhiều tù binh (nghệ nhân tài giỏi) về phục dịch kinh thành Thăng Long.

Đến thời Trần, vua Chế Bồng Nga đã chỉ huy đội thủy binh 3 lần chiếm đánh Thăng Long, vua nhà Trần phãi bỏ chạy vào rừng. Đến lần thứ 4 thì bị thất bại. Nhà Trần với tinh thần Phật giáo: “Từ bi hỉ xả” đã gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân năm 1306. đổi lại vua Chế Mân dâng 2 ô Châu, Lý (từ Quảng Bình đến Bắc sông Thu Bồn) cho Đại Việt.

Ngày nay ở Huế vẫn còn đền thờ và lễ hội Huyền Trân tại điện Hòn Chén. Đến thời vua Lê Thánh Tông – thế kỷ XVI, ranh giới của Đại Việt đã tới Đèo Cả – Phú Yên (núi Đá Bia – Thạch Bia Sơn).

Đến năm 1695, Nguyễn Hữu Cảnh dánh tan phủ Thuận Thành ở Phan Rí, vương quốc Chămpa chính thức suy vong.

Khi vương quốc Chămpa suy vong cũng là lúc hình thành xứ Đàng Trong của Đại Việt vào năm 1558.

Tại Phú Xuân đã trải qua 9 đời Chúa, 13 đời Vua mở mang bờ cõi đất phương Nam như ngày nay. Riêng ở đời Chúa Nguyễn Phúc Ấn cuối thế kỷ XVIII, có phong trào Tây Sơn nổ ra ở Bình Định, đã lên ngôi thay Chúa Nguyễn khoảng 25 năm, dẹp được 2 kẻ thù xâm lăng lớn nhất lúc bấy giờ là: 29 vạn quân Thanh ở phía Bắc, và 25 vạn quân Xiêm ở phía Nan, với nhiều cải cách lớn, nhất là sự ra đời của Chữ Nôm.

Nhà Nguyễn đã để lại nhiều di sản văn hóa, truyền thống ở miền Trung như Kinh thành Huế, lăng, tẩm, đền, đài, đình, phố cổ,… Huế đã được Unesco ghi nhận là di sản văn hóa thế giới.

1858, Pháp đánh vào Đà Nẵng chuẩn bị thôn tính nước ta. Đến 1884, vua Tự Đức đã ký hàm ước Pa-trơ-nốt biến Trung kỳ thành xứ bảo hộ của Pháp, nhập vào Liên hợp Đông Dương của Pháp gồm 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia.

Nhiều phong trào yêu nước nổ ra như: phong trào Cần Vương với các cụ Trần Quý Cáp, Trịnh Phong, vua Hàm Nghi, Duy Tân, phong trào của cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.

Từ khi Đảng Công sản ra đời, cách mạng miền Trung phát triển vượt bậc. Tại Huế, ngày 23 tháng năm 1945, vua Bảo Đại chính thức trao ấn kiếm cho chính quyền Cách mạng, chính thức thoái vị, kết thúc triều đình nhà Nguyễn ở miền Trung Việt Nam.

Thời chống Mỹ 1954 – 1975 đây là địa bàn chiến lược giáp ranh với Bắc Việt nên nhiều căn cứ quân sự hiện đại nhất của Mỹ được lập tại đây như: căn cứ Chu Lai ở Núi Thành – Quảng Nam, Nam Ô ở Đà Nẵng.

Nhiều trận đánh nổi tiếng ở miền Trung như: trận Chu Lai. Tết Mậu Thân ở Huế năm 1968, vụ thảm sát Mỹ Lai năm 1986 ở Quảng Ngãi, trận đánh ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972.

Ngày nay với ưu thế lịch sử Chămpa để lại nhiều đền tháp đẹp, nhà Nguyễn để lại nhiều kinh thành, đền, chùa, nhiều căn cứ thời chống Mỹ cùng với các bãi biển đẹp, các món ăn ngon là điều kiện thuận lợi phát triển du lịch Miền Trung.

3) NHÂN VĂN

Đây là vùng đất thiên nhiên không ưu đãi, nhưng nhân tài thì có nhiều. Người Chăm đã để lại nghệ thuật kiến trúc đền tháp kỳ vỹ và thổ cẩm và làm gốm. Người Việt có nhiều danh nhân đóng vai trò quan trọng trong lịch sử khẩn hoang miền Nam: Nguyễn Hữu Cảnh – Quảng Bình, Nguyễn Cư Trinh – Quy Nhơn, Đào Duy Từ – Bình Định, Anh em Tây Sơn – Bình Định, Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Văn Đồng – Quảng Ngãi, Nguyễn Văn rỗi – Quảng Nam, Võ Nguyên Giáp – Quảng Bình, Thoại Ngọc Hầu – Quảng Nam, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh – Quảng Nam,…

Nghệ thuật bác học có Nhã nhạc Cung đình Huế. Nghệ thuật dân gian: bài chòi, hát bả trạo, hát bội. Về điêu khắc: Viện sĩ Điềm Phùng Thị, tranh làng Sừng, tranh XQ,…

4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC

Chuyên đề về lịch sử, nghệ thuật kiến trúc Chămpa. Lịch sử 9 đời chúa, 13 đời vua triều Nguyễn. Chuyên đề về đặc sản miền Trung như món ăn Huế, Quảng Nam: Bún bò Huế, cơm hến, bánh nậm, bánh lọc (Huế), cao lầu, mì Quảng, bê thui Cầu Móng (Quảng Nam), zon (Quảng Ngãi), tré, bò khô, rượu Bàu Đá (Bình Định), thịt ba chỉ (Đà Nẵng).

Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. các di tích, trận đánh Cam Ranh, Phù Mỹ, Chu Lai, Quảng Trị, vĩ tuyến 17, La Bảo, Cửa Tùng, địa đạo Vĩnh Mốc, Mẹ Suốt,…

Chuyên đề lũ lụt miền Trung.

Chuyên đề về tính tiết kiệm của người dân miền Trung.

Chuyên đề du lịch biển.

Chuyên đề về các di sản Thế giới.

II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ

SƠ ĐỒ TUYẾN MIỀN TRUNG

1. THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – QUẢNG BÌNH

Thành phố Biên Hòa

Thành phố Biên Hòa nằm ở phía Tây của tỉnh Đồng Nai, Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, Nam giáp huyện Long Thành, Đông giáp huyện Thống Nhất, Tây giáp huyện Dĩ An, Tân Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 – TP.Hồ Chí Minh . Nằm 2 bên bờ Sông Đồng Nai, cách trung tâm TP.HCM 30 km (theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A), cách TP Vũng Tàu 90 Km (theo Quốc lộ 51).

Tổng diện tích tự nhiên: 154,67 km2

Dân số năm 2006: 548.860 người

Đi trên quốc lộ 1A, tới ngã 3 Tam Hiệp, phía bên trái là tượng đài chiến thắng Long Bình

Long Bình

Đây là tượng đài được xây dựng để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ binh chủng đặc công Biên Hòa đã làm nên chiến thắn Long Bình vào ngày 20 tháng 10 năm 1966. Chiến thắng Tổng kho liên hợp Long Bình còn gọi là “tiếng sấm Long Bình” là trận đánh thể hiện cho lối đánh độc lập, độc đáo của lực lượng đặc công Biên Hòa bí mật thọc sâu, đánh hiểm, dùng đạn ít mà hiệu suất cao và rút lui an toàn, lối đánh ấy đã giúp cho bộ đội ta những kinh nghiệm quý báu trong hiệp đồng tác chiến giữa quân chủ lực và bộ đội địa phương.

Rẽ trái tại ngã 3 này là con đường dẫn vào khu công nghiệp Long Bình

Khu Công Nghiệp Long Bình

Là khu công nghiệp liên doanh giữa Tập đoàn Nissho Iwai – Nhật Bản và Công ty Agtex – Việt Nam). Thuộc quốc lộ 15A phường Long Bình thành phố Biên Hòa. Được xây dựng vào năm 1996 với diện tích 100 ha, có khu chế xuất 40 ha trong khoa học công nghiệp.

Đi thêm một đoạn nữa, tới một ngã tư bên phải là con đường vào khu công nghiệp Amata

Khu Công Nghiệp Amata

Công ty TNHH AMATA Việt Nam là chủ đầu tư xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp AMATA

KCN Amata nằm trên Xa lộ Bắc Nam thuộc Phường Long Bình, Thành phố Biên Hòa, một vị trí khá thuận lợi cho nhà đầu tư. Được Thành lập : 1995

Diện tích : giai đoạn 1 phát triển 129 ha, đã lắp đầy và đang triển khai giai đoạn 2 với 232 ha.

Vẫn tiếp tục đi trên quốc lộ 1A chúng ta sẽ đi qua ngã 3 Hố Nai và khu thiên chúa giáo. Khi gần tới huyện Trảng Bom, nhìn bên trái là con đường vào thác Giang Điền.

Thác Giang Điền

Thác Giang Điền thuộc xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, Đồng Nai. Cách trung tâm TP.HCM 45 km,

Vừa ra mắt đầu năm 2006 (mới hoàn thành giai đoạn một) nhưng với diện tích 67 ha, khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền đang dần trở thành sự lựa chọn thú vị cho những hội trại lên đến cả ngàn người, những chuyến picnic, dã ngoại cuối tuần.

Tiếp tục chúng ta sẽ đến với huyện Trảng Bom

Huyện Trảng Bom

Trảng Bom là một huyện là một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai , phía Nam giáp huyện Long Thành, phía Đông giáp huyện Thống Nhất, phía Tây giáp thành phố Biên Hòa, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu.

Tổng diện tích tự nhiên: là 326,14 km2, chiếm 5,54% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Dân số năm 2006: 194.458 người, mật độ dân số 596,24 người/km2.

Tiềm năng du lịch: thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, có lợi thế về điều kiện tự nhiên, môi trường, sự kết hợp hài hòa giữa rừng trồng và mặt nước ao hồ, thác ghềnh tự nhiên.

Huyện có 03 khu công nghiệp là Sông Mây, Hố Nai và Bàu Xéo. Huyện với lợi thế cách Tp.HCM 50km và Tp. Biên Hòa 30km về phía đông, dọc theo Quốc lộ 1A là địa bàn khuyến khích thu hút đầu tư của các doanh nghiệp.

Tới huyện Trảng Bom đi thêm một đoạn nữa là tới ngã 3 Trị An. Đây là đường vào thủy điện Trị An.

Nhà Máy Thủy Điện Trị An

Nhà Máy Thủy Điện Trị An được xây dựng trên sông Đồng Nai, cách thành phố Hồ Chí Minh 65 km về phía Đông Bắc, với sự hợp tác của Liên Xô từ 1984, đưa vào hoạt động năm 1991.

Nhà máy thủy điện Trị An có 4 tổ máy, với tổng công suất thiết kế 400 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm 1,7 tỉ KWh. Dung tích hồ chứa nuớc của nhà máy là 2.765,00 km khối

Tới thủy điện rồi đi thêm một đoạn nữa thì sẽ tới chiến khu Đ

Chiến khu Đ

Chiến khu Đ đánh dấu sự kiện thành lập và Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Cục miền Nam (1961), Đồng thời có ý nghĩa chính trị và lịch sử to lớn trong cuộc đấu tranh cách mạng kiên cường, anh dũng của quân dân miền Nam, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của phong trào cách mạng, chuyển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc sau phong trào Đồng Khởi.

Trung ương Cục miền Nam và một số cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục tuy chỉ đứng chân ở Chiến khu Đ trong gần hai năm 1961 – 1962, sau đó chuyển về căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh), nhưng đã có những hoạt động hết sức quan trọng: tiếp tục thực hiện nhiệm vụ lịch sử của Xứ uỷ Nam bộ, Trung ương miền Nam; lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn về tổ chức các cơ quan tham mưu của Đảng bộ miền Nam, bao gồm Văn phòng Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, Ban Bảo vệ An ninh, Ban Tổ chức, Ban Tuyên huấn, Ban Thông tin liên lạc, Ban Giao – Bưu – Vận, Đài phát thanh, thông tấn xã giải phóng. . . Chỉ đạo củng cố và kiện toàn bộ máy lãnh đạo kháng chiến ở các khu, tỉnh, thành toàn Miền Nam từ Vĩ tuyến 17 đến Cà Mau. Chỉ đạo này là nhân tố hàng đầu đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, tập trung của Trung ương Đảng với sự nghiệp cách mạng ở miền Nam.

Trung ương Cục đã nối thông hành lang chiến lược từ Chiến khu Đ – miền Đông Nam bộ với Khu VI, Tây Nguyên, Khu V, đồng bằng Nam bộ ra Trung ương, tiếp nhận sự chi viện to lớn của miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa cho Đảng bộ và quân dân miền Nam trên tuyến đầu chống Mỹ, cứu nước. Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại chiến khu Đ ( 1961 – 1962 ) là nơi diễn ra những sự kiện lịch sử đặc biệt quan. Đặc biệt trong tư tưởng quan điểm lãnh đạo, Trung ương Cục rất quan tâm đến công tác xây ựng và phát triển căn cứ địa, đảm bảo hậu cần tại chỗ cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước.

Quay trở lại quốc lộ 1A, phía bên phải là nhà hàng Hưng Phát, đi thêm một đoạn nữa là tới ngã 3 Dầu Giây. Đây là quốc lộ 20 đi Đà Lạt.

Quốc lộ 20 dài khoảng hơn 250 km, là trục đường bộ đi từ ngã ba Dầu Dây thuộc tỉnh Đồng Nai lên tới thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Quốc lộ 20 đi qua địa phận 02 tỉnh: tỉnh Đồng Nai và tỉnh Lâm Đồng, có nhiều đèo dốc, trong đó có đèo Bảo Lộc và đèo Prenn. Quốc lộ 20 đi qua nhiều rừng cao su, rừng thông, rừng nhiệt đới, những vườn cây công nghiệp, những đồi trà, cà phê bạt ngàn.

Từ ngã 3 Dầu Giây đi thêm một đoạn nữa chúng ta sẽ qua vườn cao su và tới thị xã Long Khánh.

Thị Xã Long Khánh

Tổng diện tích tự nhiên: 195 km2Dân số 2006: 142.567 người.

Nằm ở giữa về phía Đông của tỉnh Đồng Nai và là một huyện trung du nằm trên cửa ngõ vào TP Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp huyện Thống Nhất và huyện Xuân Lộc, phía Nam giáp huyện Cẩm Mỹ, phía Đông giáp huyện Xuân Lộc, phía Tây giáp huyện Thống Nhất.

Thị xã Long Khánh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp với vùng kinh tế chiến lược Đông Nam bộ, Cao nguyên và Miền Trung có nhiều tuyến đường giao thông quốc gia đi qua, có vị trí rất quan trọng về các mặt chính trị- kinh tế – xã hội và an ninh- quốc phòng đối với tỉnh và cả khu vực.

Thị xã Long Khánh là đầu mối giao lưu hàng hóa với các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng, Phú Yên…là điều kiện cho phát triển thương mại-dịch vụ.

Đi qua khỏi dốc Mẹ Bồng Con, nhìn bên phải là con đường đi vào công ty cao su Đồng Nai.

Tổng Công Ty Cao Su Đồng Nai

Tổng Công Ty Cao Su Đồng Nai tại Thị xã Long Khánh, Tỉnh Đồng nai, nằm trên trục quốc lộ 1A, có vị trí địa lý và giao thông thuận lợi.

Là đơn vị trực thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt nam, được thành lập ngày 02/06/1975 trên cơ sở tiếp quản 12 đồn điền có diện tích 21.054 ha vườn cây và 04 nhà máy sơ chế của các công ty Pháp để lại với sản lượng 10.500 tấn năm 1975. Sau 10 năm (1975-1985) đã nâng lên 17 nông trường ,diện tích lên đến 55.781 ha, sản lượng khai thác chiếm 50% tổng sản lượng cao su ở Việt nam. Năm 1994 Tổng công ty cao su Đồng nai tách 4 nông trường, diện tích 13.559 ha cho tỉnh Bà rịa Vũng tàu để thành lập Công ty cao su Bà rịa.

Đi thêm một đoạn nữa nhìn bên trái là con đường dẫn vào khu du lịch Suối Tre. Đi qua ngã 3 Hoa một đoạn, bên tay trái là tượng đài chiến thắng Long Khánh.

Công Viên Tượng Đài Chiến Thắng

Để ghi nhớ công lao của các chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh xương máu, góp phần gìn giữ, bảo tồn, phát huy truyền thống cách mạng của địa phương, thể theo nguyện vọng của đông đảo cán bộ chiến sĩ và nhân dân địa phương . Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Long Khánh đã có chủ trương xây dựng một công trình tượng đài kết hợp công viên cây xanh mang tên công viên tượng đài chiến thắng.

Công trình được đặt viên đá đầu tiên vào ngày 21/4/2000 chính thức khởi công vào 22/12/2000 và hoàn thành vào 15/4/2001. Tổng dự toán công trình 4.103.096.000đồng.

Trên mặt bằng 7.712,3m2, với vị trí khá thuận lợi nằm ngay khu tam giác giao tiếp giữa quốc lộ 1 và đại lộ Hùng Vương của Thị xã hướng từ miền Trung vào, vừa đến phường Phú Bình du khách sẽ nhìn rõ mồn một toàn cảnh khu công viên tượng đài chiến thắng Long Khánh, với nhóm tượng đài một nam, một nữ chiến sĩ giải phóng quân uy nghi, hùng vĩ, sừng sững với tư thế tiến công chỉ tay về hướng Sài Gòn mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Tiếp tục đi thẳng chúng ta sẽ đi ngang qua trại giam K4 của bộ công an. Tới ngã 3 Tân Phong, là quốc lộ 56 đi Bà Rịa đi chừng 3km là tới mộ cổ Hàng Gòn

Mộ Cổ Hàng Gòn

Từ huyện Long Khánh đi dọc Quốc lộ 1 chừng vài km tới ngã ba Tân Phong , xã Xuân Tân (Long Khánh), tiếp tục đi theo Quốc lộ 56 về hướng Bà Rịa vũng Tàu, chỉ khoảng 3 km, du khách sẽ đến Mộ cổ Hàng Gòn. Năm 1910, người Pháp lập đồn điền cao su, phá rừng và phát hiện ra Mộ cổ Hàng Gòn.

Kích thước ngôi mộ dài 4,20m; ngang 2,70m; cao 1,60m; ghép bằng sáu phiến đá hoa cương lớn, nặng không dưới 50 tấn. Các phiến đá ghép với nhau theo hệ thống rãnh đục làm nắp và phiến đá làm đáy. Hai bên ngôi mộ có hai trụ đá hoa cương cao 7,5m với tiết diện 0,4m x1,10m và mười trụ đá cát có tiết diện hình chóp cao từ 3m đến 4,10m. Mộ cổ Hàng Gòn có kích thước to lớn khác thường nên còn gọi là mộ cự thạch (cự: to lớn; thạch: đá).

Theo các nhà khảo cổ, ngôi mộ có cách đây khoảng 2.000 năm và loại đá làm mộ chỉ có ở Đà Lạt hoặc Phan Rang. Những phiến đá nặng hàng tấn đã được vận chuyển bằng cách nào qua quảng đường hai đến ba trăm km trong điều kiện chưa có đường xá, xe cộ và phương tiện gì ?

Chắc chắn bạn chưa biết, và không tin là nó tồn tại: Cẩm nang & kinh nghiệm du lịch Thái Lan dành cho những bạn du lịch Thái Lan tự túc hoặc tham khảo thông tin trước khi đi du lịch.

Năm 1992, Nhà bảo tàng Đồng Nai trùng tu ngôi mộ cự thạch Hàng Gòn để bảo tồn di sản văn hóa, cũng trong năm này Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận và xếp hạng đây là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Người dưới ngôi mộ cổ là tổ tiên trực tiếp của người Mạ, người Chơro, hoặc người Xtiêng ở miền Đông Nam Bộ. Hiện nay Mộ cổ Hàng Gòn vẫn chứa nhiều bí mật mà các nhà khảo cổ còn chưa trả lời đầy đủ.

Tiếp tục chạy trên quốc lộ 1A sau khi qua chợ trái cây Bão Hòa chúng ta sẽ đến với huyện Xuân Lộc

Xuân Lộc

Xuân Lộc là một huyện của tỉnh Đồng Nai. Trung tâm của huyện là thị trấn Gia Ray.

Địa danh Xuân Lộc nổi tiếng là chiến trường ác liệt trong trận Xuân Lộc vào tháng 4 năm 1975. Trước đây, thị trấn Long Khánh thuộc huyện Xuân Lộc nhưng năm 2000 đã nâng cấp thành thị xã.

Xuân Lộc nổi tiếng với các vườn cây ăn trái như chôm chôm, sầu riêng và các gia súc như heo, gà, bò. Xuân Lộc có các địa danh như núi Gia Lào (được phong làm “Đệ nhị thiên sơn” của vùng Nam Bộ), hồ Suối Vọng.

Phía đầu huyện Xuân Lộc có con đường đi vào làng của người dân tộc Châu Ro

thuộc xã Châu Pha, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Núi Chứa Chan còn gọi là núi Gia Ray hay núi Gia Lào thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, là ngọn núi cao thứ hai khu vực Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long, với chiều cao 800m so với mặt nước biển. Núi Chứa Chan nổi tiếng với phong cảnh hùng vĩ. Đá vôi là một đặc trưng của ngọn núi này. Đặc biệt ở độ cao 600m, núi Chứa Chan có một ngôi chùa nổi tiếng khắp vùng Nam Bộ. Hàng năm vào những dịp lễ hoặc những ngày rằm (tháng Giêng, tháng 7) hàng trăm ngàn du khách từ khắp nơi đến đây thắp hương, cúng tế, cầu nguyện cho gia đình và người thân được bình an.

Đi tiếp một đoạn nữa chúng ta sẽ đi qua ngã 3 Ông Đồn. đây là con đường vào thị trấn Gia Ray. Đi trên đoạn đường này chúng ta sẽ có dịp ngắm rừng cây lá buông ngay bên quốc lộ về bên trái và bên phải là thánh đường và làng người chăm và người Châu ro. Đi hết huyện Xuân Lộc chúng ta sẽ tới địa phận của tỉnh Bình Thuận.

Tỉnh Bình Thuận

Cách thành phố Hồ Chí Minh 188km. Phía bắc và đông bắc giáp Ninh Thuận, tây bắc giáp Lâm Đồng, tây giáp Đồng Nai, đông và đông nam giáp biển, tây nam giáp Bà Rịa – Vũng Tàu. Thuộc phần cuối dãy núi Trường Sơn cao hơn 1.000m đâm ra biển, độ dốc cao. Có sông La Ngà và 6 con sông nhỏ. Đất canh tác chiếm 1/7 tổng diện tích. Ven biển nhiều đồi cát và ngập mặn. Khí hậu: Thuộc khu vực khô hạn nhất cả nước, lượng mưa ít, trung bình 1.000 đến 1.600 mm/năm (bằng 1/2 lượng mưa trung bình ở Nam Bộ). Nhiệt độ trung bình 27 độ C. Độ ẩm trung bình 80%. Công trình lớn quốc gia: Cụm thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi công suất 476 Mw/h.

Bình Thuận là địa danh chung chỉ vùng đất Nam Trung Bộ thời các đời chúa Nguyễn cho mở mang khai khẩn. Trải qua 300 năm, những thay đổi địa giới, đơn vị hành chính và dân cư theo các biến cố lịch sử đã hình thành tỉnh Bình Thuận ngày nay.

Bình Thuận có 192 km bờ biển, có huyện đảo Phú Quý và nhiều đảo nhỏ, vũng, vịnh trước ngư trường rộng lớn có nhiều dòng hải lưu, hội tụ các đàn cá, tôm, mực… Với 4.600 con tàu lớn nhỏ, ngư dân thạo nghề ở đây mỗi năm đánh bắt được 130 ngàn tấn hải sản các loại. Mực là sản phẩm giá trị nổi tiếng của tỉnh được ưa chuộng ở thị trường trong và ngoài nước. Thương hiệu nước mắm Phan Thiết từ lâu có chất lượng và hương vị riêng vẫn cung cấp đều đặn cho thị trường nội địa.

Một mỏ vàng du lịch mới lộ ra đúng thời thế và những nhà đầu tư trong và ngoài nước nhanh chóng nắm bắt cơ hội, lập các dự án du lịch dọc dải đất dài hơn 20 km từ Phan Thiết qua Mũi Né đến Hòn Rơm và mời gọi du khách bốn phương.Chỉ trong vài năm, một trọng điểm du lịch cấp quốc gia thứ 10 – Du lịch Bình Thuận được đánh dấu son trên bản đồ, dành cho loại hình du lịch dã ngoại, sinh thái nghỉ dưỡng đang rất được khách.

Lịch sử vùng đất còn lưu giữ tháp Chàm Pôsanư, quần thể tháp thời thần Shiva này tồn tại và 1200 năm và là kiến trúc Chăm duy nhất được xây bằng gạch lớn, được mài và kết dính độc đáo.

Bình Thuận có bề dày lịch sử, văn hoá lâu đời, nhất là văn hoá Chăm pa với nhóm di tích tháp Chàm cổ Pôshanư, đền thờ Poklong Mơhnai và hơn 100 bảo vật hoàng tộc Chăm nguyên gốc quý hiếm được bà Nguyễn Thị Thềm, hậu duệ vua Chăm lưu giữ, trong đó có vương miện, áo bào, hia hài, vòng xuyến của vua và hoàng hậu. Người Chăm là một trong những người đầu tiên phát hiện ra công dụng của nước khoáng Bình Thuận. Họ đã dùng nước khoáng này chữa bệnh và chế nước thơm rửa tượng thánh. Bằng nước khoáng Bình Thuận, vào thế kỷ 13, người Chăm đã chữa khỏi bệnh phong cho vua Chế Mân của họ. Công chúa Huyền Trân, con gái vua Trần và cũng là hoàng hậu của vua Chế Mân rất ngạc nhiên về sự màu nhiệm, huyền bí của suối nước này nên đã đặt tên suối là Vĩnh Hảo. Người Pháp cũng khai thác nước khoáng Vĩnh Hảo từ năm 1920.

Bình Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, là cửa ngõ giao lưu kinh tế – văn hóa – xã hội giữa khu vực Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Với hệ thống các quốc lộ 1A, 28, 55, nơi đây trở thành giao điểm nối liền các trung tâm du lịch lớn của khu vực và cả nước như Nha Trang, Đà Lạt, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu. Tất cả những yếu tố đó đã và đang nâng cao vị thế của du lịch Bình Thuận. Trong nguồn tài nguyên du lịch Bình Thuận, du lịch biển là một thế mạnh do thiên nhiên ưu ái ban tặng điển hình trong đó là biển Mũi Né – một bãi biển rất đẹp nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. Từ đồi cát bay, du khách có thể thấy toàn bộ khung cảnh biển Mũi Né, được tận hưởng những màn trượt cát đầy cảm giác.

Tới tỉnh Bình Thuận, đầu tiên chúng ta sẽ đi qua huyện Hàm Tân.

Hàm Tân

Huyện Hàm Tân hiện nay có diện tích 134km2 và dân số khoảng 58,000 người (2005)

Hàm Tân là một huyện cực nam của tỉnh Bình Thuận. Phía đông của huyện là biển Đông, phía nam giáp với tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, phía Bắc giáp với huyện Hàm Thuận Nam của tỉnh. Hàm Tân vốn là một huyện nghèo, đa số dân sống bằng nghề nông và đi biển. Trước đây, thị trấn Lagi là huyện lỵ, nhưng kể từ khi Lagi được nâng lên thành thị xã năm 2005, thị trấn Tân Minh trở thành huyện lỵ. Ngay đầu huyện Hàm Tân là trại giam Z30D

Trại Giam Z30D

Vào trại Z30D (tọa lạc dưới chân núi Bể thuộc xã Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận) là con đường nhựa trải dài dưới bóng mát của cây xanh với diện tích hơn 17.000ha. Nơi đây, xưa kia từng là một vùng đồi núi trọc, hoang vu sỏi đá, đất đai bạc màu cằn cỗi.

Năm 1977, Bộ Nội vụ quyết định dời trại cải tạo Thủ Đức (Trung tâm cải huấn Thủ Đức của chế độ ngụy quyền Sài Gòn trước 1975) về Tân Minh, Hàm Tân, Thuận Hải cũ (nay là tỉnh Bình Thuận). Với quyết tâm biến nơi đây không chỉ trở thành một khu vực trại cải tạo quy mô, đầy đủ tiện nghi mà còn biến nơi đây thành một vùng kinh tế trọng điểm.

Đi tới ngã 3 Hàm Tân là con đường đi thị xã Lagi nơi có Dinh Thầy Thím

Dinh Thầy Thím

Dinh Thầy Thím toạ lạc giữa khu rừng già, có tên là rừng dầu Bàu Cát thuộc xã Tân hải, huyện Hàm Tân cách thành phố Phan Thiết khoảng 70km về phía Đông Nam.

Để tỏ lòng tôn kính và biết ơn công lao Thầy Thím, dân làng đã lập dinh tại địa điểm ngaỳ nay để tôn thờ. Nhân dân quanh vùng coi Thầy Thím như vị Thành Hoàng biểu hiện cho nhiều tính cách đáng quý đó là tài đức, tính cần cù, miệt mài lao động, lòng nhân ái với người nghèo khổ.

Dinh Thầy Thím được kiến tạo lại quy mô từ năm Kỷ Mão(1879). Hiện nay trên thanh xà cò của Dinh còn dòng chữ Hán khắc chìm “Kỷ Mão niên thập nhị quạt nhị thập ngũ nhật kiến tạo” kiến tạo ngày 25 tháng 12 năm Kỷ Mão (1879). Dinh Thầy Thím có dạng kiến trúc như một ngôi đình làng bao gồm nhiều công trình : Chính điện, nhà thờ Tiền Hiền, nhà Võ Ca. Trong khám thờ chính ở Chánh điện còn hai bài vị thờ Thầy Thím và nhiều bức hoành ca ngợi công đức Thầy Thím. Cách Dinh Thầy Thím chừng 5km là khu vực mộ Thầy Thím . Ở đây 4 ngôi mộ đắp bằng cát trắng rất lớn, theo dân gian hai ngôi mộ của Thầy Thím và 2 ngôi mộ của đệ tử Thầy. Ngày nào cũng có du khách đến viếng mộ với lòng thành kính.

Hơn 100 năm qua Dinh Thầy Thím trở thành nơi để nhân dân chiêm bái, những năm gần đây là khu danh lam thắng cảnh và du lịch kết hợp với núi rừng xung quanh, bãi biển, đồi dương. Hàng năm nhân dân khắp nơi đến viếng mộ, thăm Dinh nhưng đông nhất vẫn là diọ giỗ Thầy ngày 5 tháng giêng âm lịch và tế Thu của Dinh từ ngày 14-16 tháng 9 âm lịch.

Dinh Thầy Thím được Bộ Văn Hoá xếp hạng

Tiếp tục đi trên quốc lộ 1A, tới thị trấn Thuận Nam, bên phía phải có con đường đi Mũi Kê Gà. Đi thêm một đoạn nữa, cũng phía bên phải là núi Tà Cú.

Khu Du Lịch Sinh Thái Núi Tà Cú

Khu du lịch Núi Tà Cú nằm sát quốc lộ 1A, ở thị trấn Thuận Nam (huyện Hàm Thuận Nam), cách TP Phan Thiết 30km. Khu du lịch rộng hơn 250.000 m2 có rừng, núi và biển với quần thể sinh thái phong phú. Vừa qua hệ thống cáp treo hiện đại đã được lắp đặt tại đây. Sau khi vượt qua đỉnh ngọn núi nhỏ và khu rừng già nguyên sinh, trước mặt du khách là biển Hàm Thuận Nam, bên trái là ngọn hải đăng Kê Gà nổi tiếng có hơn 100 tuổi, hằng ngày vẫn cần mẫn hướng dẫn tàu, thuyền đi lại trên biển ban đêm an toàn.

Sau khi đi lên núi bằng cáp treo, theo con đường mòn độ vài trăm mét, khách tham quan sẽ nhìn thấy một quần thể: chùa, tháp, tượng Phật và hang động. Ðáng lưu ý nhất là di tích “Song Lâm Thị Tịch” với tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn lớn nhất Ðông Nam Á, dài 49m, cao 11m và nhóm Tam Thế Phật đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Leo lên hàng trăm bậc đá, vãn cảnh chùa, thăm hang động, du khách còn thấy những giò lan rừng nở đầy hoa, thơm ngát, vắt vẻo trên những cây dầu, cây bằng lăng… trong rừng nguyên sinh. Khuôn viên nhà chùa trên núi vừa rộng, vừa mát có nhiều ghế đá, ghế gỗ là nơi ngồi để tận hưởng ngọn gió trong lành từ biển. Khách có thể rửa mặt từ những vòi nước trong vắt, mát rượi từ núi chảy ra và nghỉ ngơi ở đây.

Khi theo cáp treo đi xuống cũng rất thú vị. Từ trên cao, khách thấy những vườn thanh long thẳng hàng, xanh rì, dưới xa là những làng xóm mái ngói đỏ tươi. Nhìn toàn cảnh khu du lịch, khách sẽ ngạc nhiên và thú vị được chiêm ngưỡng ý tưởng độc đáo của các nhà kiến trúc khi xây dựng nơi đây như một tác phẩm nghệ thuật mang hình cây đàn nhị và cây đàn ghi-ta khổng lồ nối với nhau bằng một chiếc cầu xinh xắn.

Đoạn đường qua Bình Thuận, dọc hai bên đường chúng ta thấy những vườn Thanh Long rất nhiều và đây chính là một đặc sản nơi đây.

Thanh Long Bình Thuận

Một đặc sản nổi tiếng của Bình Thuận đó chính là trái Thanh Long. Đó là những trang trại nằm giữa lòng thung lũng của núi Tà Cú bên một hồ nước nhỏ xinh đẹp. Thanh long Bình Thuận rất ngọt và tươi. Và giá của thanh long tại Bình Thuận rất rẻ, chỉ vài ngàn đồng một ký. Đó là chưa kể bạn có thể thăm quan vườn thanh long và xin một nhánh về trồng tại nhà. Thanh long hiện nay ở Bình Thuận đang được xuất khẩu và bán tại nhiều thị trường trên thế giới. Trước đây việc trồng Thanh Long chưa có kĩ thuật nên năng suất chưa cao, sau này nhờ việc áp dụng khoa học kĩ thuật nên chất lượng và sản lượng tăng lên rất nhiều. Việc phát hiện ra cách xử lý ra hoa trái vụ của cây Thanh Long là do một người nông dân chăn vịt. Khi ông mắc điện để trông đàn vịt của mình, sau một thời gian một số cây Thanh Long gần đó tự nhiên ra hoa trái mùa. Và từ đó cách xử lý ra hoa trái mùa cho cây Thanh Long được phổ biến và áp dụng rộng rãi.

Tiếp tục đi thẳng chúng ta sẽ đi qua ngã Hai là con đường đi vào ga Mường Máng. Đi thêm một đoạn nữa chúng ta sẽ đến với thành Phố Phan Thiết.

Phan Thiết

Phan Thiết nằm trên quốc lộ 1A (chiều dài quốc lộ 1A đi qua là 7 km), cách Thành phố Hồ Chí Minh 198 km về hướng Đông. Phan Thiết là đô thị của miền Trung, thuộc miền Nam Trung Bộ. Diện tích tự nhiên là 206,45 km², bờ biển trải dài 57,40 km, với số dân là 205.333 người (2004)206. có các dân tộc sinh sống ở đây chủ yếu là Kinh, Hoa, Chăm

Phía đông giáp biển Đông, Phía tây giáp huyện Hàm Thuận Nam – tỉnh Bình Thuận, Phía nam giáp biển Đông và huyện Hàm Thuận Nam – tỉnh Bình Thuận, Phía bắc giáp huyện Hàm Thuận Bắc và huyện Bắc Bình – tỉnh Bình Thuận.

Giữa trung tâm thành phố có con sông Cà Ty chảy ngang chia Phan Thiết thành 2 ngạn: Phía nam sông: khu thương mại. Phía bắc sông: gồm các cơ quan hành chính và quân sự.

Ở đây có các đặc sản: Mực một nắng, Bánh căn, Nước mắm Phan Thiết, Gỏi cá (cá Suốt, cá Mai, cá Đục), Mỳ Quảng Phan Thiết, Bánh rế, Cốm hộc, Bánh xèo Phan Thiết, Trái thanh long, Dông cát nướng sa tế, Dừa ba nhát, Bánh canh cá

Danh lam thắng cảnh – Di tích lịch sử

Tháp nước Phan Thiết, Mũi Né, Hòn Rơm, Bãi tắm Đồi Dương, Đồi cát Mũi Né, Suối Tiên, Tháp Chăm Pôshanư, Trường Dục Thanh, Lầu Ông Hoàng, Vạn Thủy Tú, Chùa cổ Liên Trì, Mộ Nguyễn Thông, Hải đăng Khe Gà, Chùa Ông (Quan Đế Miếu), Đình làng Đức Thắng, Đình làng Đức Nghĩa, Chùa Bà Thiên Hậu, Chùa Phật Quang, Chùa núi Tà Cú

Cứ vào mùng 2 tết Nguy